Thực hiện Công văn số 3450/SNV-CCHC&CQĐP, ngày 01/12/2025 của Sở Nội vụ thành phố Cần Thơ về việc góp ý dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch cải cách hành chính trọng tâm giai đoạn 2026 - 2030. Căn cứ dung công văn nêu trên, Trường Cao đẳng Nghề Sóc Trăng thống nhất cao với Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch cải cách hành chính trọng tâm giai đoạn 2026 - 2030.
Người đăng: Nguyễn Văn Duy
|
Tác giả: Lê Văn Bình
|
26/09/2026 05:34
Thực hiện Công văn số 3450/SNV-CCHC&CQĐP, ngày 01/12/2025 của Sở Nội vụ thành phố Cần Thơ về việc góp ý dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch cải cách hành chính trọng tâm giai đoạn 2026 - 2030. Căn cứ dung công văn nêu trên, Trường Cao đẳng Nghề Sóc Trăng thống nhất cao với Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch cải cách hành chính trọng tâm giai đoạn 2026 - 2030.
Trường Cao đẳng Nghề Sóc Trăng triển khai Dự thảo
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch
cải cách hành chính trọng tâm giai đoạn 2026 - 2030
Ngày viết: 06/12/2025
Thực hiện Công văn số 3450/SNV-CCHC&CQĐP, ngày 01/12/2025 của Sở Nội vụ thành phố Cần Thơ về việc góp ý dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch cải cách hành chính trọng tâm giai đoạn 2026 - 2030.
Căn cứ dung công văn nêu trên, Trường Cao đẳng Nghề Sóc Trăng thống nhất cao với Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch cải cách hành chính trọng tâm giai đoạn 2026 - 2030.
Theo đó, nhiệm vụ cải cách hành chính trọng tâm giai đoạn 2026 - 2030 tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm, như:
Tiếp tục đẩy mạnh triển khai thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 theo Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính phủ, đảm bảo hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước trong giai đoạn II (2026 - 2030); trong đó, nội dung trọng tâm cải cách hành chính giai đoạn 2026 - 2030 là: Cải cách thể chế; cải cách chế độ công vụ; chuyển đổi số trong các cơ quan nhà nước.
Khắc phục triệt để những tồn tại, hạn chế, bất cập trong quá trình triển khai thực hiện giai đoạn 2021 - 2025 của Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước theo Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính phủ.
Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị và nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong tổ chức triển khai công tác cải cách hành chính. Nâng cao chất lượng, hiệu quả của cải cách hành chính để phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đến năm 2030.
Phấn đấu đến năm 2030:
Tỉ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người dân và doanh nghiệp đạt tối thiểu 80%; tỉ lệ cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình trên tổng số thủ tục hành chính có đủ điều kiện đạt tối thiểu 90%; tỉ lệ số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính đạt 100%; tỉ lệ cấp kết quả giải quyết thủ tục hành chính điện tử đạt 100%; tỉ lệ khai thác, sử dụng lại thông tin, dữ liệu đã được số hóa trong giải quyết thủ 2 tục hành chính, dịch vụ công đạt 80%; tỉ lệ thanh toán trực tuyến trong giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công đạt 80%; tỉ lệ thủ tục hành chính được tiếp nhận, giải quyết phi địa giới hành chính giữa trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền đạt 70%; tỉ lệ giao dịch không dùng tiền mặt đạt 80%; tỉ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt tối thiểu 40%; tỉ lệ người dân có Sổ sức khỏe điện tử đạt tối thiểu 95%.
Xếp hạng chỉ số phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số của Việt Nam thuộc tốp 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á, thuộc tốp 50 nước dẫn đầu thế giới; mức độ hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước đạt tối thiểu 95%. Mức độ hài lòng của người dân về cung cấp dịch vụ y tế, giáo dục công lập đạt tối thiểu 90%;
Xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, có chất lượng cao, có số lượng, cơ cấu hợp lý; đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ: Có 50% - 60% số lãnh đạo, quản lý cấp phòng, vụ, cục và tương đương ở Trung ương, có 25% - 35% số lãnh đạo, quản lý cấp sở, ngành, trên 30% số lãnh đạo, quản lý cấp phòng trực thuộc sở, ngành, 80% số lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp nhà nước có đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế. Hoàn thiện đầy đủ và đồng bộ hệ thống pháp luật để thể chế hóa các chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý, cơ chế tài chính của cơ quan hành chính Nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập./.
---Lê Văn Bình---
Bình luận